Cấy ghép thận – Kidney Transplantation Abhinav Humar and Arthur J. Matas

Ghép thận hoặc cấy ghép thận là việc cấy ghép thận của một người vào một bệnh nhân bị bệnh thận giai đoạn cuối.

Ghép thận thường được phân loại thành 2 trường hợp tương ứng với người hiến tặng đã chết hoặc người hiến tặng còn sống.

Benhthan.org xin được phép đăng bài dịch về Kidney Transplantation của 2 tác giả Abhinav Humar and Arthur J. Matas, xin được tạm dịch là Cấy ghép thận

Kidney Transplantation Abhinav Humar and Arthur J. Matas

BÀI DỊCH

Cấy ghép thận 

Abhinav Humar và Arthur J. Matas

I. Phần giới thiệu 

1.1 Tổng quan về cấy ghép thận từ người hiến thận đã qua đời

1.2 Phương pháp

 1.2.1 Cấy ghép thận ở người trưởng thành

1.2.2 Phương pháp tích hợp

II. Những sự thay đổi trong phẫu thuật

  1. Cấy ghép thận cho đối tượng người nhận là nhi khoa
  2. Nhóm đối tượng nhi khoa hiến tặng thận 
  3. Nhóm đa động mạch thận

 III. Những biến chứng trong phẫu thuật và các cách quản lý 

  1. Sự xuất huyết
  2. Chứng tắc nghẽn động mạch thận
  3. Chứng hẹp động mạch thận
  4. Những biến chứng trong động mạch của người nhận ghép thận
  5. Chứng tắc nghẽn tĩnh mạch thận
  6. Chứng nghẽn tĩnh mạch huyết khối
  7. Chứng phình mạch đường rò
  8. Những biến chứng về đường tiết niệu
  9. Chứng u nang bạch huyết
  10. Những biến chứng về vết thương

 Giới thiệu

 

    Trong suốt 35 năm qua, đã xuất hiện một số các thành tựu y học đã có những tiến bộ vượt bậc, mà cụ thể kể đến là cấy ghép thận. Từ thời kỳ đầu của thế kỷ, những dấu mốc trong việc phát triển các kỹ thuật thiết yếu trong phẫu thuật cấy ghép, cho đến thời kỳ kết thúc của nó  với sự xuất hiện của việc ức chế miễn dịch trong những năm 1950 và cho đến thời điểm hiện tại với sự ra đời của phương pháp chữa trị bệnh tùy chọn cho những bệnh  thuộc giai đoạn cuối (ESRD), việc phẫu thuật cấy ghép thận đã gặt hái được những tiến bộ đáng kể. Nhũng kỹ thuật trong phẫu thuật các cơ quan của cơ thể, bao gồm phương pháp thông mạch, đã được hình thành dựa trên thí nghiệm ở động vật được thực hiện bởi nhà khoa học Carrel và Guthrie trong những năm 1990. Thí nghiệm cấy ghép thận lâm sàng từ người đã qua đời  lần đầu tiên được thực hiện vào năm 1993, thông qua  bác sĩ phẫu thuật người Ukraina, Voronoy, tuy nhiên  kết quả thu được là sự thất bại đến từ những kết quả thứ cấp đến từ những rào cản trong hệ miễn dịch. Trong những năm 1950, những điều gây cản trở trên  đã được giảm thiểu nhờ có thí nghiệm phẫu thuật trên một cặp song sinh giống nhau. Kỷ nguyên mới mở ra của việc cấy ghép thận đã khởi nguồn từ sự xuất hiện của trung gian ức chế miễn dịch có tên là azathioprine, và phẫu thuật cấy ghép thận đã được công bố là một lựa chọn rõ ràng cho việc chữa trị ESRD.

Cấy ghép thận - Kidney Transplantation Abhinav Humar and Arthur J. Matas

Cấy ghép thận – Kidney Transplantation Abhinav Humar and Arthur J. Matas

Với đa phần những bệnh nhân mắc ESRD, việc cấy ghép  đã giúp họ trở thành những chiến binh hồi sinh từ bệnh tật, cải thiện chất lượng cuộc sống, và chi phí chữa bệnh cũng giảm thiểu đáng kể so với sự thẩm tách kinh niên. Việc xuất hiện chống chỉ định tuyệt đối là rất ít, vì vậy tất cả những bệnh nhân mắc ESRD đều nên được coi là những nhân tố tiềm tàng. Tuy nhiên, việc phẫu thuật và gây mê đã gây nên hậu quả nghiêm trọng cho nhồi máu cơ tim. Những ức chế miễn dịch hóa học kéo dài trong suốt cuộc đời sau đó cũng liên quan đáng kể đến bệnh suất. Vì vậy, việc đánh giá, xem xét trên người nhận tiềm năng phải tập trung vào việc nhận định, phân tích những yếu tố rủi ro mà có thể  được giảm thiểu tối đa hoặc có thể gây ra chống chỉ định cho một cuộc cấy ghép.

Những đánh giá tiền phẫu thuật được chia ra làm bốn giai đoạn: nội khoa y học, phẫu thuật, miễn dịch và tâm lý xã hội. Việc đánh giá về mặt y học sẽ bắt đầu hoàn toàn từ kiểm tra lịch sử bệnh cũng như là về tình trạng thể chất. Tỉ lệ tử vong sau cấy ghép cũng có thể xảy ra dựa trên những căn bệnh tiềm tàng về hệ tim mạch liên quan đến nhiễm độc và những biến chứng trong khối u của ức chế miễn dịch. Bất kỳ một trạng thái xung huyết tim thất bại nào,  bệnh viêm họng, sự thúc đẩy của tình trạng nhồi máu cơ tim, đột quỵ, đều cần được phát hiện kịp thời. Những bệnh nhân có dấu hiệu tiềm tàng của các bệnh liên quan đến hệ tim mạch, hoặc có những rủi ro lớn, có sức ảnh hưởng (ví dụ như tiêu chảy, những người tuổi từ 50 trở lên, những người có tiền sử bệnh tim), cần phải trải qua sự xem xét, đánh giá sâu sắc hơn về hệ tim mạch. Tất cả những vấn đề bệnh tật cần phải được chữa trị một cách phù hợp (bằng thuốc, hoặc bằng phẫu thuật). Những bệnh nhân có những triệu chứng nghi ngờ về các bệnh liên quan đến mạch não phải được đánh giá dựa trên những nghiên cứu về động mạch cảnh kép. 

Sự nhiễm độc ác tính và cùng với tính chất tấn công chủ động của nó là những chống chỉ định tuyệt đối vì những ức chế miễn dịch cần thiết trong suốt cuộc đời của bệnh nhân. Trong công cuộc trị những bệnh liên quan đến nhiễm độc, một quãng nghỉ gián đoạn từ 2 đến 5 năm là cần  thiết trước bất kỳ một cuộc phẫu thuật cấy ghép nào. Sự đề xuất này được ảnh hưởng bởi loại hình bệnh nhiễm độc, với những giai đoạn thời gian quan sát lâu dài hơn của bệnh ung thư, ví dụ như khối u ác tính, hoặc ung thư vú, và với những giai đoạn thời gian ngắn hơn, ví dụ như ung thư biểu bì, hoặc những bệnh nhiễm độc cấp độ thấp, ví  ung thư biểu bì tầng cơ sở trên bề mặt da. Những bệnh nhiễm độc kinh niên ví dụ như viêm tủy hay viêm nội mạc tim cần phải được chữa trị một cách đầy đủ. Những lĩnh vực y học được đánh giá khác nên tập trung vào những vấn đề liên quan đến dạ dày, ruột non, ví dụ như viêm loét dạ dày, triệu chứng của bệnh sỏi mật, hay bệnh viêm gan. 

Việc đánh giá dựa trên mặt phẫu thuật này cần phải tập trung vào việc phát hiện những điểm bất thường trong hệ mạch hoặc đường tiết niệu  mà có khả năng ảnh hưởng đến việc cấy ghép. Những bằng chứng đã được tiết lộ từ tiền sử bệnh liên quan đến hệ mạch (ví dụ như tình trạng di chuyển khập khiễng, không vững vàng, hoặc trong thời gian hồi phục sau cơn đau), hoặc đến từ việc kiểm tra sức khỏe thể chất (không thấy mạch đập hoặc mạch đập yếu) cần phải được đưa vào nghiên cứu một cách sâu sắc hơn thông qua những thí nghiệm của Doppler, hoặc xét  nghiệm bằng tia X. Bệnh sỏi động mạch chủ nghiêm trọng sẽ ngăn chặn triệt để việc phẫu thuật cấy ghép, vậy thì một lựa chọn cho những bệnh nhân này là phương pháp tái thông mạch máu, ví dụ như giải phẫu động mạch chủ, ghép mô phải được thực hiện trước khi cấy ghép. Những chứng bệnh hẹp gần gốc được thực hiện gần khu vực được cấy ghép có thể cần có  việc tiền phẫu thuật hình cầu ví dụ như tạo hình mạch vành, hoặc tạo ống đỡ động mạch. Việc đánh giá, xem xét về đường tiết niệu cần phải loại trừ  khả năng có bệnh nhiễm độc thận bẩm sinh, mà có thể cần đến việc cắt thận tiền cấy ghép. Những chỉ định khác liên quan đến việc cắt thận bao gồm đa đa nang thận, hiện tượng trào ngược nghiêm trọng, và việc tăng huyết áp động mạch chủ không kiểm soát ở thận. Đặc biệt, trẻ em cần đến việc kiểm  tra hệ thống ống sinh dục một cách toàn diện để đánh giá hiện tượng trào ngược, và hiện tượng tắc nghẽn ống bàng quang

Việc đánh giá, xem xét về hệ miễn dịch của bệnh nhân được xác định trước tiên là loại máu, loại mô, [kháng nguyên bạch cầu trong cơ thể người, (các HLA) A,B, DR], và sự xuất hiện của bất kỳ loại kháng thể tế bào độc hại trong cơ thể chống lại những HLA. (vì có sự tiền cấy ghép, truyền máu, hoặc mang thai).

Việc đánh giá trên lĩnh vực tâm lý xã hội là cần thiết để bảo đảm cho bệnh nhân hiểu được bản chất của phương pháp cấy ghép, với những rủi ro liên quan. Họ buộc phải theo sát phác đồ trị liệu y học sau phẫu thuật cấy ghép. Những bệnh nhân chưa từng tuân theo phác đồ điều trị trong quá khứ cần phải có ý chí, nỗ lực và khả năng để vượt qua điều đó, trước khi họ trải qua một cuộc phẫu thuật cấy ghép  sắp tới. Những người hiến tặng còn sống thì được ưu tiên nhiều hơn so với những người hiến tặng đã qua đời. Những người nhận hiến từ những người còn sống sẽ được hưởng thành quả lâu dài hơn, tránh việc chờ đợi trong thời gian dài, và có khả năng lên kế hoạch, sắp xếp cuộc cấy  ghép, phẫu thuật cho mình trước đó. Hơn nữa, họ cũng sẽ hiếm khi trải qua những sự cố trì hoãn chức năng cấy ghép mô. Tất cả những lợi thế trên đã góp phần làm giảm thiểu những sự cố ngoài ý muốn về sự việc từ chối phẫu thuật cấp tính trong giai đoạn đầu, và cũng để cải thiện việc cấy ghép mô cũng như là tỉ lệ sống còn của bệnh nhân. Trong khi tồn tại rất nhiều lợi ích cho người nhận, sẽ chẳng có một lợi ích gì cho những  người hiến tặng còn sống, chỉ tiềm tàng một sự rủi ro. Vì vậy, có thể kết luật chính xác rằng tỉ lệ rủi ro của việc hiến tặng ở trong mức độ thấp mà có thể chấp thuận được, và người hiến tặng họ hoàn toàn biết được những rủi ro tiềm tàng ấy, và họ bằng lòng hiến tặng với sự vô tư của mình. 

 

Phần 2 – Phương pháp cấy ghép thận

Để lại nhận xét